Niềm tin và chính sách

Cách tốt nhất để tạo dựng niềm tin là các cơ quan làm chính sách cần tìm kiếm các nguyên lý điều hành phù hợp với sự vận động của thị trường.


Niềm tin vào các chính sách của Chính phủ cấu thành đáng kể vào niềm tin hay kỳ vọng của doanh nhân với triển vọng kinh doanh trong tương lai. Điều đó quyết định một nền kinh tế sẽ tăng trưởng hay suy giảm trong dài hạn.

Trong kinh doanh, niềm tin đóng vai trò rất quan trọng. Nếu tin tưởng rằng việc kinh doanh trong tương lai là thuận lợi và hứa hẹn lợi nhuận người ta sẽ sẵn sang bỏ vốn ra làm ăn. Ngược lại, nếu tin rằng việc này sẽ khó khăn và có khả năng thua lỗ, người đang có ý định kinh doanh có thể ngừng không gia nhập thị trường nữa, còn người chủ doanh nghiệp đang hoạt động sẽ có xu hướng thu hẹp sản xuất.

Trong nền kinh tế, các chính sách của chính phủ thường gây ra những ảnh hưởng lớn và rộng khắp tới các doanh nghiệp. Niềm tin vào các chính sách của chính phủ cấu thành đáng kể vào niềm tin hay kỳ vọng của doanh nhân vào triển vọng kinh doanh trong tương lai. Chính niềm tin này của giới doanh nhân sẽ quyết định một nền kinh tế sẽ tăng trưởng hay suy giảm trong dài hạn.

Cách tốt nhất để tạo dựng niềm tin là các cơ quan làm chính sách cần tìm kiếm các nguyên lý điều hành phù hợp với sự vận động của thị trường.

Niềm tin của các chủ thể kinh tế đối với các chính sách kinh tế không phải tự nhiên mà có. Nó phụ thuộc vào uy tín của các cơ quan thực thi chính sách. Nếu như các cơ quan thực thi chính sách có các hành động cho thấy họ luôn thực hiện những gì họ hứa và những gì họ thực hiện luôn vì lợi ích chung của nền kinh tế thay vì lợi ích của một nhóm nào đó thì họ sẽ có được uy tín.

Khi cơ quan thực thi chính sách có uy tín thì ngay cả các chính sách kinh tế gây ra các tác động tiêu cực trong ngắn hạn nhưng lại đem lại lợi ích trong dài hạn thì nó vẫn khiến cho người dân tin tưởng và tiếp tục có những hành động tích cực trong kinh doanh. Kết quả là các tác động tiêu cực ngắn hạn sẽ bị giảm thiểu.

M
ột ví dụ kinh điển, đã dược đưa vào các sách giáo khoa kinh tế, về niềm tin của người dân đối với chính sách là chương trình cắt giảm thâm hụt ngân sách của chính quyền Clinton vào năm 1993. Để giúp nền kinh tế Mỹ phục hồi chắc chắn hơn sau đợt suy thoái 1990-1991, chính quyền Clinton thay vì tiếp tục chính sách tăng chi tiêu, dẫn đến thâm hụt ngân sách ngày càng trầm trọng, đã quyết định đưa ra một gói chính sách giảm thâm hụt ngân sách. Gói chính sách này bao gồm việc tăng thuế, giảm chi tiêu, và kỳ vọng Fed sẽ hướng ứng qua việc nới lỏng chính sách tiền tệ để giảm thiểu các tác dụng tiêu cực từ việc thắt chặt tài khóa. Và quả thực, chính quyền Clinton đã nhận được sự đồng thuận và cam kết của chủ tích Fed lúc bấy giờ là Alan Greenspan cho gói chính sách này.

Về mặt lý thuyết, khi chính quyền cắt giảm chi tiêu và tăng thuế để cắt giảm thâm hụt ngân sách thì sẽ dẫn đến thu hẹp hoạt động sản xuất trong ngắn hạn, khiến nền kinh tế tăng trưởng thấp. Tuy nhiên, chính quyền Clinton đã thuyết phục được và tạo được niềm tin cho thị trường. Kết quả là thị trường tài chính đã phản ứng tích cực, giúp mặt bằng lãi suất thấp hơn so với giai đoạn trước khi gói chính sách này được thông qua, góp phần đáng kể vào việc đưa mức tăng trưởng kinh tế của Mỹ năm 1994 lên tới 4,1%, cao hơn mức tăng trưởng kinh tế trung bình kể từ năm 1975. Và đúng như cam kết, chính quyền Clinton không những đã cân bằng được ngân sách, mà còn đạt được thặng dư ngân sách vào năm cuối của nhiệm kỳ thứ hai của chính quyền mình.

Vai trò của niềm tin đối với chính sách kinh tế cũng được thể hiện khá rõ ràng trong trường hợp của Việt Nam. Trong giai đoạn 2008-2010, niềm tin của người dân sụt giảm vì các chính sách kinh tế bất nhất của Chính phủ. Khi niềm tin sụt giảm thì dù Ngân hàng nhà nước (NHNN) có tuyên bố duy trì chính sách tỷ giá ổn định, thiết lập trần lãi suất huy động, hay đảm bảo lạm phát ở mức một con số thì thị trường vẫn phản ứng ngược lại. Hệ quả là các chính sách kinh tế bị thất bại, mặt bằng lãi suất tăng vọt, khiến nền kinh tế rơi vào suy giảm. Vào thập niên 1970, một nhóm các nhà kinh tế vĩ mô, dẫn đầu bởi Robert Lucas và Thomas Sargent, đã đưa ra khái niệm kỳ vọng thuần lý (rational expectation) để tích hợp yếu tố niềm tin của các chủ thể kinh tế vào trong các mô hình kinh tế vĩ mô. Các nhà kinh tế này cho rằng các chủ thể kinh tế đủ thông minh để đánh giá các chính sách kinh tế, tác động của chúng tới các hoạt động kinh tế, và qua đó sẽ hình thành kỳ vọng của họ về tương lai. Nếu tin tưởng vào sự thành công của chính sách, họ sẽ có thái độ tích cực trong đầu tư và ngược lại.

Bắt đầu từ năm 2011, Chính phủ chủ trương kiên trì theo đuổi chính sách ổn định kinh tế vĩ mô. Và khi thị trường thấy rằng cam kết của Chính phủ là đáng tin cậy, Việt Nam đã nhanh chóng cắt giảm được lạm phát từ mức 18% năm 2011 xuống còn dưới 7% năm 2012 và 2013. Mặt bằng lãi suất cũng được hạ xuống ở mức tương ứng và tỷ giá trở nên ổn định. Dù rằng tổng mức đầu tư xã hội của nền kinh tế trên GDP bị giảm mạnh từ mức hơn 40% các năm trước đó xuống còn 30-34% thì tăng trưởng của nền kinh tế vẫn không bị ảnh hưởng đáng kể.

Bởi việc tạo dựng niềm tin trong việc xây dựng chính sách là tiêu tốn thời gian nên để tránh đánh mất niềm tin từ dân chúng, cách tốt nhất là các cơ quan làm chính sách cần tìm kiếm các nguyên lý điều hành phù hợp với sự vận động của thị trường. Nếu như nguyên lý điều hành trái ngược với sự vận động của thị trường thì cơ quan thực thi chính sách có thể dễ dàng đánh mất đi uy tín của mình bởi việc cưỡng lại các qui luật thị trường thường rất tốn kém và khó có thể duy trì được lâu.

Tại Việt Nam, chế độ tỷ giá cố định và chính sách độc quyền vàng miếng mà NHNN đang theo đuổi là mầm mống có thể làm cho NHNN đánh mất uy tín mà mình vừa gây dựng được trong thời gian vừa qua. Với một nền kinh tế có độ mở cao và mức lạm phát vẫn cao hơn rất nhiều so với đối tác thương mại chính (Mỹ, Nhật, Trung Quốc, EU, và ASEAN) thì chỉ cần có sự đảo chiều về nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế trong nước là đã có thể khiến cho tuyên bố duy trì tỷ giá cố định trở thành sai. Việc cố gắng níu kéo tỷ giá trong trường hợp này sẽ tiêu tốn của quốc gia rất nhiều dự trữ ngoại hối. Đây là điều đã diễn ra tại Việt Nam trong các năm 2008-2009 mặc dù trong năm 2007 tỷ giá khá ổn định nhờ dóng vốn đầu tư dồi dào từ nước ngoài.

Chính sách độc quyền xuất nhập khẩu và sản xuất vàng miếng cũng là một chính sách đi ngược lại sự vận động của thị trường. Hiện tại, vàng đang không phải là kêch trú ẩn của người dân do xu hướng giá giảm trên thế giới. Tuy nhiên, nếu như vì một lý do nào đó, kinh tế thế giới lại rơi vào bất ổn và các nhà đầu tư lại chú ý đến vàng, thì giá vàng sẽ lại quay trở lại xu hướng tăng. Khi đó, nhu cầu tích trữ vàng của người dân sẽ tăng. NHNN sẽ bị rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nhập khẩu nhiều vàng để can thiệp sẽ tiêu tốn dự trữ ngoại hối, nhưng nếu không thì sẽ khiến cho nguồn cung trở nên khan hiếm và tạo ra các bất ổn trong xã hội.

Đinh Tuấn Minh (theo NĐT)

Đóng góp của bạn cho chuyên mục

Họ tên: Địa chỉ:
Email:
Điện thoại:
File gửi kèm(MAX 100KB):
Tiêu đề:
Nội dung: *
CAPTCHA

gỗ nhân tạo conwood,gỗ conwood,sàn gỗ ngoài trời,gỗ ngoại thất

máy phát điện,máy phát điện dân dụng, máy phát điện gia đình, máy phát điện nhập khẩu